Hoài Niệm Việt Nam

Hoài Niệm Việt Nam Bấm theo dõi ủng hộ kênh nhé ạ! https://collshp.com/hoainiemvietnam?view=storefront

Lê Hồng Phong ông tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1902 trong một gia đình nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thô...
17/06/2026

Lê Hồng Phong ông tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1902 trong một gia đình nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thôn Đông xã Cựu Thông Lãng, tổng Thông Lãng, nay là xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ, cuộc sống của ông đã gặp nhiều bấp bênh khó khăn. Song thân ông là ông Lê Huy Quán và bà Phạm Thị Sau.

Mồ côi cha từ nhỏ, tuy nhiên nhờ với sự tảo tần của người mẹ, ông vẫn được cho theo học chữ Hán tại làng, được thầy học cải tên thành Lê Văn Duyện. Sau đó, ông được cho học tiếp thêm khoảng 2 năm tiếng Pháp. Vì gia cảnh quá ngặt nghèo, năm 16 tuổi, ông xin đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh để có thêm tiền sinh kế cho gia đình. Một thời gian sau, ông chuyển sang làm công nhân nhà máy diêm Bến Thủy và bị đuổi việc vì đã vận động công nhân đấu tranh đòi quyền lợi với giới chủ bóc lột. Từ đó, ông bước vào con đường làm một nhà cách mạng chuyên nghiệp.

Tháng 1 năm 1924, ông cùng 10 thanh niên, trong đó có bạn cùng làng là Phạm Hồng Thái, sang Thái Lan, sau đó đi qua Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, ông cùng Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt găp đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được kết nạp vào tổ chức cách mạng Tâm Tâm Xã (còn gọi là Tân Việt Thanh niên Đoàn). Ông là một trong 9 hội viên hạt nhân của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Mùa hè năm 1925, ông cùng Lê Hồng Sơn và Lê Quang Đạt được giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Một năm sau, ông được cử sang học Trường Không quân Quảng Châu. Tại đây, tháng 2 năm 1926, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 8 năm 1927, ông cùng nhóm thanh niên tình nguyện Việt Nam đang theo học tại Trường Không quân Quảng Châu sang học tiếp tại Trường Không quân Liên Xô.

Tuy nhiên, nhờ có sức khỏe tốt nên ông là người duy nhất trong nhóm tiếp tục theo học tại Trường Không quân Liên Xô. Từ tháng 10 năm 1926 đến tháng 10 năm 1927, ông sang học Trường Lý luận Quân sự tại Leningrad (Liên Xô). Từ tháng 12 năm 1927 đến tháng 11 năm 1928, ông học trường Không quân số 2 ở Borisoglebsk (Liên Xô). Từ tháng 12 năm 1928, ông theo học trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moskva (Liên Xô) với bí danh Litvinov (Литвинов). Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia Hồng quân Liên Xô với cấp bậc Trung tá.

Cuối năm 1931, với tên là Vương Nhật Dân, ông về Trung Quốc hoạt động. Bấy giờ, ở trong nước, các tổ chức cộng sản bị chính quyền thực dân đàn áp dữ dội. Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, ông cùng một số đồng chí tìm cách liên lạc với tổ chức Đảng trong nước nhằm khôi phục phong trào và thảo chương trình hành động của đảng trong tình hình Đảng bị tổn thất nặng nề trước đó.

Tháng 6 năm 1932, Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra bản Chương trình hành động được Quốc tế Cộng sản công nhận. Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, do ông làm Thư ký (Bí thư). Do tình hình Ban Chấp hành Trung ương trong nước gần như bị tê liệt nên Ban Chỉ huy hải ngoại kiêm Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, có nhiệm vụ liên lạc giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và các đảng Cộng sản bạn, tổ chức lại công tác đào tạo cán bộ cho đất nước, ra Tạp chí Bônsơvích - cơ quan lý luận của Trung ương Đảng, tập hợp và phục hồi các cơ sở Đảng, chuẩn bị triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất.

Từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 6 năm 1934, Hội nghị Ban chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương và đại diện các tổ chức Đảng ở trong nước được tổ chức, gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt, Nguyễn Văn Tham và Trần Văn Chấn. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết Chính trị và Nghị quyết Về các vấn đề tổ chức.

Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao, ông được bầu làm Tổng Bí thư.[6] Tháng 7 năm 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ra dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Đại hội công nhận Đảng là Chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành của Quốc tế Cộng sản.

Tháng 1 năm 1936, ông tới Trung Quốc và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng tại Thượng Hải (tháng 7 năm 1936).

Ngày 10 tháng 11 năm 1937, ông về Việt Nam hoạt động với tên là La Anh.

Tháng 3 năm 1938, ông dự Hội nghị Trung ương họp tại Hóc Môn (Gia Định) quyết định thành lập "Mặt trận Dân chủ Đông Dương".

Ngày 22 tháng 6 năm 1939, ông bị mật thám Pháp bắt lần thứ nhất ở tại Sài Gòn, bị kết án 6 tháng tù và 3 năm quản thúc và trục xuất về quê Nghệ An.

Ngày 6 tháng 2 năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai. Sau đó, ông bị kết án 5 năm tù và 10 năm quản thúc vì không chứng cứ kết án tử hình. Ông bị đày đi Khám Lớn Sài Gòn và Côn Đảo.

Trưa ngày 6 tháng 9 năm 1942, ông qua đời trong lúc ở trong tù tại Côn Đảo đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 40.

Trước khi mất ông gửi lời nhắn nhủ: "Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng: Tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng".
Ảnh: Tác giả Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

Nguyễn Thị Minh Khai bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh...
17/06/2026

Nguyễn Thị Minh Khai bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Theo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thì bà sinh ngày 1 tháng 11 (tức 30 tháng 9 âm lịch).

Cha của bà là ông Nguyễn Huy Bình, người làng Mọc (phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội), làm công chức hỏa xa ở Vinh, thường gọi là Hàn Bình. Mẹ là Đậu Thị Thư, quê Đức Tùng (nay là Tùng Châu), Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm nghề buôn bán nhỏ. Trước năm 1940, gia đình bà sống tại 132 phố Maréchal Foch (nay là phố Quang Trung), Vinh. Về sau, gia đình bà về sống ở quê mẹ là xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1919, bà bắt đầu học chữ Quốc ngữ rồi vào trường tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh.

Năm 1927, bà tham gia hoạt động trong phong trào công nhân ở Vinh và tham gia thành lập Tân Việt Cách mệnh Đảng, sau đó được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ.

Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở văn phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản.

Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây. Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong.

Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào cách mạng 1936-1939 ở Sài Gòn. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.

Ngày 30 tháng 7 năm 1940, bà bị bắt (cùng với Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Hữu Tiến - tác giả cờ đỏ sao vàng) ngay sau phiên họp của Xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh.

Sau khi Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 28 tháng 8 năm 1941.
Ảnh: Tác giả Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

Phạm Hồng Thái  sinh ngày 14 tháng 5 năm 1895, tên thật là Phạm Thành Tích, tự là Phạm Đài, Nho Tư, quê ở làng Do Nha, n...
16/06/2026

Phạm Hồng Thái sinh ngày 14 tháng 5 năm 1895, tên thật là Phạm Thành Tích, tự là Phạm Đài, Nho Tư, quê ở làng Do Nha, nay là xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thời trẻ ông rời quê ra học Trường Kỹ nghệ Hải Phòng, rồi làm phu mỏ ở Hòn G*i. Chính ở đây ông được tiếp xúc với các nhà cách mạng, giác ngộ và nhiệt tình yêu nước. Ông cùng một nhóm thanh niên có tâm huyết theo Vương Thúc Oánh - thành viên của Việt Nam Quang Phục hội, vượt biên giới qua Thái Lan rồi sang Quảng Châu, Trung Quốc vào cuối năm 1918. Tại Quảng Châu, ông học tập chính trị, tích cực hoạt động trong nhóm Tâm Tâm xã do Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn chỉ đạo. Ông được tổ chức cử đi Thượng Hải, Hồng Kông, Nhật Bản để tuyên truyền cổ động các kiều bào ta ở bên ấy. Năm 1924, được tin Toàn quyền Đông Dương Merlin sang Nhật Bản điều đình với Nhật để trục xuất các nhà cách mạng Việt Nam, trên đường về Merlin cùng đoàn tùy tùng dừng lại Quảng Châu, ở tại khách sạn Victoria phía Bắc thành phố Sa Diện. Ông được tổ chức phân công ám sát Merlin. Ông cải trang đóng giả nhà báo vào khách sạn và ném một quả bom nhỏ ngay giữa bàn tiệc. Bom nổ, một số nhân vật Pháp và ngoại quốc chết, nhưng Merlin chỉ bị thương nhẹ. Ông thoát ra ngoài, bọn cảnh vệ rượt theo đuổi bắn rát, ông nhảy xuống sông Châu Giang, hy sinh ngay trong đêm ấy (18/6/1924), khi ông mới 28 tuổi. Thi hài ông được chôn cất ở chân đồi Bạch Vân, đến tháng 3/1925, Tỉnh trưởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân hậu duệ của Hồ Hán Thương chủ trương cải táng đưa di cốt ông vào Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, yên nghỉ bên cạnh 72 liệt sĩ khác của cách mạng Tân Hợi (1911). Tiếng bom Sa Diện tuy không giết được Merlin nhưng đã gây được tiếng vang lớn tác động đến các tổ chức cách mạng trong nước.
Ảnh: Tác giả Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

Bác Hồ thăm bà con nông dân thôn Cẩm Xuyên, xã Trung Nghĩa, Hiệp Hòa, Tỉnh Bắc Giang năm 1953. Ảnh: Vũ Quang Khoa - Hoài...
16/06/2026

Bác Hồ thăm bà con nông dân thôn Cẩm Xuyên, xã Trung Nghĩa, Hiệp Hòa, Tỉnh Bắc Giang năm 1953.
Ảnh: Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

KỈ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/06/1896 - 15/06/2026)Hồ Tùng Mậu (1896 – 1951), tên khai sinh là Hồ B...
15/06/2026

KỈ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/06/1896 - 15/06/2026)
Hồ Tùng Mậu (1896 – 1951), tên khai sinh là Hồ Bá Cự, là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung và chính khách cộng sản lớn của Việt Nam. Ông là một trong những người cộng sự thân thiết và tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ đầu vận động thành lập Đảng.
Ông sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông thuộc hàng danh gia vọng tộc giàu truyền thống yêu nước. Ông nội là Án sát Hồ Bá Ôn đã tử trận khi bảo vệ thành Nam Định chống Pháp. Cha là cử nhân Hồ Bá Kiện, bị thực dân Pháp bắn chết khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phá ngục tại Nhà tù Lao Bảo.
Ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác tại Thừa Thiên, ông bị máy bay của thực dân Pháp oanh tạc và anh dũng hy sinh. Khi nghe tin ông mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay viết bài điếu văn vô cùng xúc động để tiễn đưa người đồng chí thân thiết.
Ông đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam truy tặng các phần thưởng cao quý nhất bao gồm Huân chương Sao vàng và Huân chương Hồ Chí Minh.
Ảnh: Tác giả Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

15/06/2026

Liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái (1915–1944) người vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
https://s.shopee.vn/9KdrgRzW9e

NỮ ANH HÙNG NỔI TIẾNG VỚI CÂU NÓI "CÒN CÁI LAI QUẦN CŨNG ĐÁNH" Út Tịch (1931-1968) là một nữ Anh hùng lực lượng vũ trang...
15/06/2026

NỮ ANH HÙNG NỔI TIẾNG VỚI CÂU NÓI "CÒN CÁI LAI QUẦN CŨNG ĐÁNH"
Út Tịch (1931-1968) là một nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam. Bà tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1931, nguyên quán tại làng Tích Thiện, tổng Thạnh Trị, quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc xã Tam ngãi, huyện Cầu kè, tỉnh Trà Vinh).
Tham gia cách mạng năm 1945. Chị Út đến với cách mạng, với kháng chiến thật đơn giản, như câu nói của chị “nó đánh mình, mình đánh nó…” (theo tác phẩm”Người Mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi). Khi cuộc chiến đến thời kỳ ác liệt, thế ta và địch không cân bằng, chị đã nói :”Còn cái lai quần cũng đánh!”.
Từ năm 1945 đến năm 1965, Nguyễn Thị Út là du kích xã Tam Ngãi, cùng Đội du kích của xã Tam Ngãi kiên cường, mưu trí, sáng tạo, đánh 23 trận (có 8 trận trong kháng chiến chống Pháp), diệt và làm bị thương 200 tên địch, thu 70 súng, làm thất bại nhiều cuộc càn quét của địch, tuyên truyền vận động nhiều binh lính địch bỏ ngũ, nhiều lần dẫn đầu bộ đội diệt đồn bốt địch, thu vũ khí không phải nổ súng.
Chị Út Tịch đã cùng đồng đội đánh đồn bót trong lúc đang có thai. Đồng đội và bà con rất ái ngại, khuyên chị nghỉ dưỡng thai đợi ngày sinh nở. Chị trả lời thản nhiên: “Có ai đánh giặc mà chờ sinh xong mới đánh, còn gà mái là con gà giò. Cứ đánh!”. Gương đánh giặc của chị khiến cho đồng đội hết sức thương yêu và kính phục.
Tính đến năm 1965, chị đã tham gia 23 trận lớn nhỏ (có 8 trận thời kháng chiến chống Pháp) góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 giặc, thu 70 súng. Chị là một chiến sĩ trinh sát dũng cảm và mưu trí, một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động phá vỡ nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn…Chị chính là nguyên mẫu nhân vật chính trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng” của nhà văn Nguyễn Thi.
Nguyễn Thị Út được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, ngày 5/5/1965, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày 27 tháng 11 năm 1968 Chị hy sinh trong một trận càn quét tại căn chòi ở xã Vĩnh Bình, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang do trúng bom B.52 của Mỹ ném. Lúc bấy giờ, chị đang tạm nghỉ công tác để chăm sóc người con gái út vừa mới chào đời được 14 ngày.

st
Ảnh: Tác giả Vũ Quang Khoa - Hoài Niệm Việt Nam phục hồi nét và màu.

Address

Vĩnh Tường Vĩnh Phúc
Phu Tho
280000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoài Niệm Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share