Người Thái Bình

Người Thái Bình Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Người Thái Bình, Photographer, Thanh Bình, Hanoi.

Hát dân ca ở Thái BìnhTrong truyền thống, Thái Bình ngoài đặc sản chèo và ca trù còn có một số loại hình dân ca khác, tr...
21/05/2025

Hát dân ca ở Thái Bình

Trong truyền thống, Thái Bình ngoài đặc sản chèo và ca trù còn có một số loại hình dân ca khác, trong đó tiêu biểu và phổ biến hơn cả là hò chèo thuyền, hát đò đưa, hát đúm, hát ru. Xét về cả ba yếu tố: diễn xướng, lời ca, phong cách âm nhạc thì dân ca Thái Bình mang đậm sắc thái văn hóa của vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ.

Vào thời xa xưa, người dân ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ ngoài việc chèo thuyền đánh cá trên sông, trên biển còn là chèo thuyền vận tải hàng hóa giao thương hoặc chuyên chở hành khách trên sông nước qua lại các vùng miền. Câu tục ngữ “nhất cận thị nhị cận giang” vốn được nảy sinh từ môi trường lịch sử đó. Hò chèo thuyền đánh cá của người dân chài lưới vùng ven biển ở Thái Bình vốn có từ lâu đời, được hình thành trên cơ sở xướng và xô. Xướng là người bắt cái, người khởi xướng câu hò đầu tiên để vào cuộc. Người bắt cái giữ vai trò nòng cốt từ đầu đến cuối cuộc hò. Vì thế người xuớng phải có giọng hò hay, sáng tạo, ứng tác kịp thời để gây không khí hào hứng, lôi cuốn tập thể hưởng ứng, gọi là “xô”. Có hai cách hò: hò đơn và hò kép.

Hò đơn là cách hò do người xướng dùng hai tiếng một tách ra từ một câu hay một bài sao cho mỗi nhịp đôi ăn khớp với nhịp hò “Dô ta này”. Ngay từ khi chuẩn bị vào cuộc hò, các tay chèo đẩy đã sẵn sàng chờ khi người bắt cái dứt tiếng “Dô ta này” thì tất cả cùng nhấn mạnh đồng loạt vào âm “Dô” chèo đẩy cho khớp nhịp và thống nhất động tác. Gần tới đích thì tiết tấu của câu hò chậm dần lại rồi dừng lại ở điểm đậu của con thuyền. Ví dụ câu: “Muốn ăn cá bổng cá hiên/Chạy về bảo mẹ đóng thuyền mà đi” đã được cắt nhịp thành: “Muốn ăn/ Dô ta này/ Dô ta này! Cá bống/ Dô ta này/ Dô ta này! Cá hiên/ Dô ta này/ Dô ta này! Chạy về/ Dô ta này/ Dô ta này! Bảo mẹ/ Dô ta này/ Dô ta này! Đóng thuyền/ Dô ta này/ Dô ta này! Mà đi/ Dô ta này/ Dô ta này!”.

Hò kép cũng hò giống nhịp điệu của hò đơn, nhưng điểm khác cơ bản là khi người xướng ngắt hết ba tiếng “Dô ta này” thì tập thể “xô” bằng bốn tiếng “Dô ta, dô ta”. Tuy có nhiều câu hò do sự liên kết về ngữ nghĩa, nên số từ có thể tăng lên ba hoặc bốn, nhưng vẫn bảo đảm đúng nhịp. Như vậy, nếu không tính âm láy đệm nhẹ “này” ở cách xô đơn “Dô ta này”, thì xô kép số âm phát ra gấp hai xô đơn. Hò kép phong cách dài hơn, thường sử dụng khi kéo thuyền mắc cạn nhẹ trên bãi bùn lầy hoặc lúc thuyền buồm đi đều trên một chặng đường dài. Ví như câu: “Nước lên cá đối ăn lên/ Nước ròng cá đối nằm bên miệng bờ/ Thương cá khỏi nước chịu khô/ Thương cho anh những trông chờ uổng công” được thể hiện dưới dạng: “Nước lên/ dô ta này/ dô ta! dô ta! Cá đối/ dô ta này/ dô ta! dô ta! Ăn lên/ dô ta này/ dô ta! dô ta!...”.

Khác với hò chèo thuyền, hát đò đưa là những câu, những bài hát của những người đánh cá, hoặc của các chân sào cho những thuyền buôn, thuyền vận tải ở vùng sông nước. Hát đò đưa giàu chất trữ tình, có âm hưởng du dương, vang vọng khắp mọi nẻo sông. Thuở xưa trai gái ở các triền sông thường hát vào lúc đêm khuya thanh vắng, khi thuyền trôi xuôi ngược trên sông. Cách hát đò đưa giản dị, tự nhiên. Người chân sào chống con sào xuống đáy sông, hai tay cầm đầu sào tỳ về phía trước bả vai, rồi lấy sức chống sào đi ngược chiều về phía mũi thuyền, đẩy thuyền đi. Lúc nhổ sào, quay lại đi thong thả về vị trí cũ, tức là hết một cội sào, vừa nghỉ vừa cất lên câu hát. Nhịp nghỉ, nhịp hát còn tùy thuộc vào người chân sào chống đò trong bối cảnh thuyền xuôi dòng hay ngược dòng, xuôi gió hay ngược gió... Có trường hợp đò đang đi trong đêm khuya, họ ngồi trong mạn thuyền hát cho nhau nghe. Hát đò đưa có hai lối: hát bỏ lửng và hát đường trường.

Hát đò đưa bỏ lửng thường mở đầu câu hát bằng tiếng “ơ...” ngân rất dài, uyển chuyển. Tiếng “ớ” đệm ở đầu câu và giữa câu hát biểu lộ chất trữ tình man mác. Người hát đang hát thì ngắt nhịp bỏ câu hát nửa chừng, gây một ý niệm chờ đợi. Đò đi được một quãng trên sông, tiếng hát lại vọng lên tha thiết. Hát đò đưa bỏ lửng thường diễn ra lúc buồm xuôi gió thuận công việc chèo đẩy thanh nhàn hơn, đò xuôi dòng đi nhè nhẹ trên sông. Ví như một khúc hát: Nữ: “Đêm khuya nước lặng gió yên/Sào nào không nhổ sang thuyền mà chơi”. Nam: “Thuyền đây nhớ lắm biển ơi/Mắc dinh quan thượng biết xuôi đường nào”. Nữ: “Sông kia ai cấm ai rào/ Muốn xuôi thì nộp thuế vào mà xuôi”...

Hát đò đưa đường trường thường hát vào những khi thuyền bè đông vui cùng đi một chuyến trên sông, trai gái hát đối đáp tỏ tình với nhau. Do phải tuân theo quy luật của nhạc điệu thơ ca cho nên mỗi người có thể hát một cách khác nhau. Giai điệu thay đổi ít nhiều tùy theo điều kiện tâm lý và hoàn cảnh cụ thể, nên nét nhạc biến hóa rộng rãi hơn. Ví dụ: “Con gà rừng mày tốt mã khoe lông/Chẳng cho đi chọi nhốt lồng làm chi/Thầy mẹ ơi con đã đến thì/Mười lăm mười tám con đi lấy chồng/Con ra đường kẻ có con không/ Con xấu hổ với chúng bạn cực lòng mẹ cha/Con biết lấy ai quà bánh biếu bà/Con biết lấy ai bù đậy để cha mẹ nhờ”...

Nếu như hát đò đưa thường diễn ra ở các triền sông thì hát đúm là một hình thức hát dân ca phổ biến hơn nhiều làng quê. Hát đúm tồn tại hai dạng là hát vặt và hát đám. Làn điệu hát ví nói là điệu cơ bản nhất của hát đúm, nhưng trong hát đúm ở Thái Bình, có cả hát đò đưa, trống quân, sa mạc...

Hát vặt là hình thức hát tự do không theo một trình tự nội dung nào. Khi đang làm việc ngoài đồng, anh thợ cày ngừng tay nảy ra câu hát: “Hò...ớ... hò/ Hỡi cô xách đôi (mà) quang (ớ) mây/Có thiếu đòn gánh, sang đây (chứ) anh đẽo giùm/Hỡi cô đội nón (mà) ba (ơ) tầm/Hữu duyên hay đã cầm nhầm duyên ai (ơ... hò)...” và cô thợ cấy ở thửa ruộng gần kề đã đáp lại: “Hò... ơ... hò/Anh kia cầy cánh (mà) ruộng (ơ) sâu/Luống cầy đã thẳng, con trâu lại thuần (ơ... hò)/Nông sâu đã biết (mà) nhau (ơ) rồi/Lẽ nào kẻ đứng người ngồi (đi) ngoảnh đi (ơ... hò)”.

Hát đám là hình thức hát tập thể thường xuất hiện trong những dịp hội hè, đình đám, lễ tết. Trai gái trong làng hoặc trai gái làng trên xã dưới, cùng đến dự hội hát giao duyên với nhau. Hát đám thường chia làm ba chặng: hát chào, hát tỏ tình, hát tiễn chào.

Hát chào, hát thách, hát đố là những câu hát ngắn mở đầu cuộc hát, tự giới thiệu mình với bạn hoặc gợi ý mời bạn hát. Ở chặng này bài hát mang không khí hồ hởi vui tươi. Ví dụ khúc hát: “Một đàn cò trắng kia ơi/Có nghe ta hát những lời này không/Hát câu đẹp cốm đẹp hồng/ Hát câu nên vợ nên chồng cò ơi”...

Hát tỏ tình, giao duyên, nguyện ước là phần hát dài hơn tất cả. Nó chứa đựng nhiều nội dung và được thể hiện bằng ngôn ngữ trữ tình đằm thắm. Tình yêu đôi lứa của các chàng trai, cô gái được thổ lộ bằng những hình tượng ví von, so sánh. Ví như: “Gặp đây xin hỏi câu này/Nước mưa trong vại còn đầy hay vơi/Bấy lâu vắng hạt mưa rơi/Bấy lâu vắng tiếng vắng lời chào nhau/Bao giờ gió đưa hương cau/ Để cho em hái lá giầu em têm”...

Hát tiễn chào là những câu hát kết thúc của đám hát. Đó là vài câu hát ngắn ngủi để chia tay nhau, gây ấn tượng để mỗi người ghi nhớ hơn lời hẹn ước của mình. Có những câu, những bài trong câu hát tiễn chào, như những lời thề vàng đá. Ví dụ: “Bây giờ giăng đã xế tà/Chia tay chẳng dứt lời ta chẳng mình/Nàng về hương lại để đây/Anh ấp vào chiếc áo này nàng ơi”...

Hát ru là loại tự sự dân ca giàu chất trữ tình, phổ biến ở hầu hết các vùng miền trong cả nước. Hát ru ở Thái Bình mang đặc trưng của lối hát ru đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện tương đối thống nhất về tiết tấu nhạc điệu và cách đưa hơi trong giọng hát, nhưng về phong cách âm nhạc và nội dung cụ thể của từng bài vẫn có những nét riêng. Ở vùng phía Bắc Thái Bình, câu hát ru mở giọng thường mở đầu bằng một loại tiếng cùng âm khác dấu, khuyết phụ âm đầu và gần đến cuối nhịp âm tiết biến đổi vần đột ngột, trước khi dẫn vào nội dung chính của bài hát. Ví dụ: “À á à à...ơi/Con cò lặn lội bờ ao/Ăn sung chát (ớ ...ơ...) ăn đào đào chua”. Ở phía Nam, Đông Nam tỉnh lại dùng câu hát đưa hơi bằng một loạt tiếng đồng âm khác dấu như: “Bồng bồng bông bống bang bang”, “Ru hời ru hỡi ru hơi”, “Hạ há hà hà hà hơi”... Ví dụ: “Hạ há hà hà hà hơi.../Con tôi buồn ngủ buồn nghê/Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gà/Nhà còn có một quả cà/Làm sao đủ miếng cơm và cho con/Con tôi khóc héo khóc hon/Khóc vòi quả thị méo trôn đầu mùa/Con thèm phẩm oản trên chùa/ Thèm quả chuối ngự tiến vua của làng/ Con thèm hạt cốm làng Ngang/Con thèm ăn quả dưa gang chợ Quài...”.

Các loại hình dân ca, dân vũ là di sản văn hóa phi vật thể vốn chỉ tồn tại ở môi trường lao động, môi trường sống, môi trường xã hội tương thích. Ngày nay khung cảnh đẩy thuyền trên sông và chèo thuyền đánh cá đã thưa vắng dần và cũng không còn không gian cho hò chèo thuyền, hát đò đưa, hát đúm tồn tại. Trẻ sơ sinh đến độ tuổi mầm non cũng ít được nghe tiếng hát ru. Đó là một trong những điều khiến nhiều người cao tuổi luôn trăn trở về việc làm thế nào để bảo tồn các loại hình dân ca ở mỗi địa phương một cách thiết thực.

theo: Nguyen Thanh (BaoThaiBinh)

Dấu ấn thời gian
17/05/2025

Dấu ấn thời gian

✅ Về đền Lộng Khê xem đốt cây Đình Liệu khổng lồ ✅📌 Dân gian lưu truyền câu ca: “Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào - tứ c...
15/05/2025

✅ Về đền Lộng Khê xem đốt cây Đình Liệu khổng lồ ✅

📌 Dân gian lưu truyền câu ca: “Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào - tứ cố cảnh”. Thời Lý, vùng đất An Khê (Quỳnh Phụ) có làng Lộng Khê đẹp nổi tiếng trong vùng. Đến nay, trên mảnh đất này còn bảo tồn nhiều di tích, trong đó đền Lộng Khê là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1990, lễ hội nơi đây cũng là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia từ năm 2017. Điều độc đáo nhất trong lễ hội còn được bảo tồn nghiêm cẩn cho đến ngày nay là lễ đốt cây Đình Liệu khổng lồ với các nghi thức uy nghiêm, trang trọng và linh thiêng.

📌 Đền Lộng Khê còn là nơi thờ Thái úy Lý Thường Kiệt và phối thờ Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - những vị anh hùng đã từng qua mảnh đất này chiêu mộ trai làng tham gia đánh giặc giữ nước. Để tưởng nhớ những vị tiền nhân có công với dân, với nước, hàng năm, cứ vào dịp tháng 3 âm lịch, dân làng Lộng Khê, xã An Khê nói riêng, huyện Quỳnh Phụ nói chung lại nô nức tham gia vào lễ hội truyền thống đền Lộng Khê.

📌 Lễ hội đền Lộng Khê diễn ra trong nhiều ngày nhưng đa phần du khách khi về với nơi đây thường lựa chọn ngày 24/3 âm lịch là đêm tổ chức lễ rước đuốc quanh làng và đốt cây Đình Liệu.

💧 theo: baothaibinh

📌 Thái Bình - một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, nổi tiếng với những cánh đồng lúa xanh mướt trải dài bấ...
15/05/2025

📌 Thái Bình - một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, nổi tiếng với những cánh đồng lúa xanh mướt trải dài bất tận. Thái Bình có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở khu vực trung tâm của Đồng bằng sông Hồng, dễ dàng kết nối với các tỉnh thành khác.

📌 Tỉnh Thái Bình có lịch sử lâu đời, với nhiều di tích lịch sử và văn hóa đặc sắc. Người dân Thái Bình cần cù, chịu khó, yêu nước và có truyền thống cách mạng lâu đời. Thái Bình cũng là vùng đất học, với nhiều danh nhân văn hóa và khoa bảng.

📌 Về kinh tế, Thái Bình đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hiện đại. Tỉnh đang khai thác tiềm năng về du lịch như đền thờ Trần Thủ Độ, hay những cánh đồng lúa chín vàng ươm.

📌 Thái Bình - một điểm đến bình yên và đầy sức sống, đang chờ đón du khách khám phá và trải nghiệm.

15/05/2025

✅Mạng lưới giao thông Thái Bình trên Map sẽ như thế nào? Khi CT08 triển khai và đưa vào hoạt động?

📌 theo: DinhNguyenBđs

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong...
30/04/2025

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Bốn ông nghè Thần Khê
Không chỉ là một vùng đất lành, gắn liền với nhiều sự kiện và danh nhân lịch sử, Thần Khê xưa còn là vùng đất học nổi danh các thời đại, đúng như câu ca: “Đã là con mẹ con cha/ Thì sinh ở đất Duyên Hà - Thần Khê”.

Theo các tài liệu đăng khoa, có thể thấy “Thần Khê có bốn ông nghè” chính là các vị đại khoa: Đỗ Tử Bình, Hoàng Kỳ, Phạm Cảnh và Đào Vũ Thường.

Đây là bốn nhà khoa bảng cũng là những danh sĩ nổi tiếng nhất huyện Thần Khê xưa, để lại huân danh sáng ngời trong sự nghiệp chữ nghĩa và quan tước.

Đỗ Tử Bình (1324 - 1383) là thế hệ thứ hai của họ Đỗ ở Phúc Hưng trang, huyện Thần Khê, lộ Long Hưng (nay là thôn Tứ, xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng).

Năm 1346 ông đỗ Ngự tiền học sinh (Tiến sĩ), nổi tiếng là người văn võ song toàn. Ông là tướng nhà Trần, sự nghiệp gắn liền với cuộc chiến giữa Đại Việt và Chiêm Thành vào cuối thế kỷ 14.

Vị đại khoa thứ 2 của Thần Khê là Hoàng Kỳ, ông nổi tiếng thông minh thần đồng từ nhỏ. Một số tư liệu chép rằng, khoa Quý Mùi (1553), ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, làm quan trải hai triều Mạc - Lê Trung hưng.

Từ Tham chính sứ, ông được thăng đến Tự khanh. Năm 1613 ông được cử làm Phó sứ sang nhà Minh. Cuối đời ông về trí sĩ tại quê nhà, sau lại lập trại ấp mới ở làng Nguyễn. Khi ông mất được truy phong Vĩnh lộc đại phu.

Vị đại khoa thứ ba là Phạm Cảnh, tự là Hiếu Liêm, hiệu Trung Thành. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, Mạc Hưng Tri năm thứ 2 (1589), được bổ làm Hiến sát sứ Hải Dương. Năm 1592, nhà Mạc bị đánh bại phải bỏ Thăng Long.

Ông bị nhà Lê bắt, thấy ông là người có tài, nhà Lê không giết, cho ông về quê.

Sau nhà Lê lại vời ông ra làm quan, không thể từ chối, ông cáo biệt dân làng rồi lên đường về kinh. Khi thuyền gần đến kinh thành, ông bảo với người cùng đi lấy giấy bút cho ông.

Ông vừa viết, vừa đọc câu “Sinh Mạc thời, sĩ Mạc triều, thực Mạc lộc sự nhi hà kham” (sinh thời Mạc, làm quan thời Mạc, ăn lộc nhà Mạc không thể thờ hai chúa). Đọc xong câu ông vừa viết, ông liền nhảy xuống sông tự tử.

Vị đại khoa cuối cùng là Đào Vũ Thường (1705 - 1754), thi đỗ Hương Cống (cử nhân) năm 19 tuổi, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông không tiếp tục thi Hội mà ra dạy học.

Môn sinh theo học rất đông, nhiều người đỗ đạt thành tài được nhân gian truyền tụng: Nức danh Yên Lũ họ Đào/ Gần xa sĩ tử xin vào nhập môn. Tuy làm quan Huấn đạo bận dạy học trò trong huyện nhưng Đào Vũ Thường vẫn dùi mài kinh sử, luyện tập văn chương.

Năm 42 tuổi, ông vượt 2000 cống sĩ để đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Dần (1746) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 đời vua Lê Hiển Tông.

Tân khoa được nhà vua ban cho áo mũ, cờ biển, ấn tứ vinh quy và được khắc tên vào bia đá. Theo điển lệ thời Lê, mỗi Tiến sĩ được cấp 30 mẫu đất nhưng Đào Vũ Thường không nhận những chân ruộng tốt vì cho rằng dân đã tốn công khai phá. Thế là ông nhận đất hoang ở mả Lờn thuộc tổng Cát Hộ, cạnh làng Yên Lũ để tránh tiếng “chưa đỗ ông Nghè đã đè hàng tổng”.

Ông đưa con cháu, dân làng đến khai phá đào sông dẫn thủy nhập điền trở thành ruộng đồng, làng mạc lập thành trại Đồng Lan.

Đồng Lan có nghĩa là cùng thơm, ông đặt tên như vậy với ý, tuy là lộc điền vua ban nhưng công khai phá là của dân, trong đó có nhiều dòng họ khác nhau – nên Đồng Lan cũng là ước muốn ngôi làng như bông hoa lan thơm ngát, no ấm, thuận hòa.

Sau khi vinh quy bái tổ, Đào Vũ Thường được nhà vua phong chức Công khoa cấp sự trung, trông nom việc chung của triều đình. Nhân có sứ nhà Thanh sang nước ta, nhà vua cử Đào Vũ Thường ra tiếp đón, đàm đạo.

Trước lời lẽ kẻ cả coi thường thiên hạ của sứ thần Trung Hoa, Đào Vũ Thường bình thản dùng những câu thơ uyên bác, đối đáp rất trôi chảy, khiến sứ thần nhà Thanh phải giật mình kính phục.

Đào Vũ Thường trải qua nhiều chức quan nhưng ở cương vị nào, ông cũng giữ được đức độ thanh liêm chính trực, phân xử công minh, tạo được lòng tin yêu của dân chúng.

Ông có ba người con là: Đào Vũ Điển, Đào Vũ Tuân và Đào Vũ Cầu – đều là những người đỗ đạt có tiếng đương thời.

a

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong...
29/04/2025

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Thần Khê ấy là nơi nào? Các nguồn sử liệu đều khẳng định huyện Tiên Hưng trước có tên là huyện Thần Khê, thuộc phủ Tiên Hưng (tên phủ này thời nhà Trần gọi là phủ Long Hưng, nhà Hồ và Hậu Lê gọi là phủ Tân Hưng, thời thuộc Minh trước nhà Lê gọi là Trấn Man, nhà Nguyễn gọi là Tiên Hưng).

Khoảng năm 1832 - 1890, huyện Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1890 - 1894, huyện Thần Khê thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Thái Bình, sau đó lại thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình cho đến khi bỏ cấp phủ thì lấy tên phủ làm tên huyện.

Khoảng năm 1969, huyện Tiên Hưng được hợp nhất với huyện Đông Quan thành huyện Đông Hưng.

Như vậy huyện Đông Hưng (tỉnh Thái Bình) ngày nay có phần đất của huyện Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan – rộng hơn rất nhiều so với thời xưa.

Tuy toàn bộ huyện Thần Khê xưa đã trở thành đất của huyện Đông Hưng nay, nhưng nhiều người vẫn nhớ về những vẻ vang khoa bảng có “những người học giỏi, những bề tôi hiền”.

Đất Thần Khê cũng là địa danh gắn bó với Trần Thiệu Ninh và Trần Thị Quý Minh. Thiệu Ninh công chúa là con gái của vua Trần Nghệ Tông và Huệ Từ.

Tương truyền, bà Huệ Từ quê ở Tây Quan, hương Cổ Lũ.

Khi vua mất, bà Huệ Từ vào tu tại chùa. Thiệu Ninh đã cho xây dựng chùa Từ Ân, được người đương thời khen ngợi “tuy là dòng dõi cao quý nhưng vẫn không quên chốn gốc”.

Sự tích về ngôi chùa Từ Ân và tấm lòng của công chúa được khắc vào bia đá từ năm 1382 nay vẫn được lưu giữ.

Công chúa Trần Thị Quý Minh là con vua Trần Duệ Tông sau khi vua cha mất công chúa đã rời bỏ kinh thành tìm về vùng Thần Khê khai phá đất hoang, lập làng, chiêu tập dân không nhà cửa về cùng mở đất cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, xây dựng phong tục, khiến cho đời sống nhân dân no đủ.

Bà còn dạy dân múa hát, điệu múa đó còn lưu lại đến ngày nay (múa giáo cờ giáo quạt).

a

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong...
29/04/2025

'Thần Khê có bốn ông nghè/Ông nào cũng được châu phê thần đồng', câu ca xưa ấy là nói về đất học Thần Khê nổi danh trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Thần Khê ấy là nơi nào? Các nguồn sử liệu đều khẳng định huyện Tiên Hưng trước có tên là huyện Thần Khê, thuộc phủ Tiên Hưng (tên phủ này thời nhà Trần gọi là phủ Long Hưng, nhà Hồ và Hậu Lê gọi là phủ Tân Hưng, thời thuộc Minh trước nhà Lê gọi là Trấn Man, nhà Nguyễn gọi là Tiên Hưng).

Khoảng năm 1832 - 1890, huyện Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1890 - 1894, huyện Thần Khê thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Thái Bình, sau đó lại thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình cho đến khi bỏ cấp phủ thì lấy tên phủ làm tên huyện.

Khoảng năm 1969, huyện Tiên Hưng được hợp nhất với huyện Đông Quan thành huyện Đông Hưng.

Như vậy huyện Đông Hưng (tỉnh Thái Bình) ngày nay có phần đất của huyện Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan – rộng hơn rất nhiều so với thời xưa.

Tuy toàn bộ huyện Thần Khê xưa đã trở thành đất của huyện Đông Hưng nay, nhưng nhiều người vẫn nhớ về những vẻ vang khoa bảng có “những người học giỏi, những bề tôi hiền”.

Mảnh đất Thần Khê chính là nơi gắn bó với An Hạ vương và phu nhân Đàm Chiêu Trinh vào cuối triều nhà Lý.

Một số nguồn sử liệu cho rằng, An Hạ vương chính là anh ruột của Thái sư Trần Thủ Độ. Ông làm quan và là vị tướng quân tài ba cuối vương triều Lý, đầu vương triều Trần.

Ông cùng Thái sư Trần Thủ Độ dựng nghiệp vương triều Trần, nhiều lần đưa quân triều đình và Châu Hoan (Nghệ Tĩnh) dẹp giặc Chiêm Thành - Chân Lạp và được cử làm Bá trưởng Châu Hoan.

Ông cùng quân dân Đại Việt đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất (1258). Sau hai vợ chồng về vùng đất thang mộc tại hương Động Nhuế (nay là xã Đông Xuân) sinh sống.

Tại vùng đất hoang sơ này, ông bà đã chiêu dân từ khắp nơi về lập ấp. Công lao ấy được người dân ghi nhớ, tôn làm Thành hoàng làng.

a

Biển Thái Bình (Cồn Vành) đẹp quá.ảnh: Cáy Studio
28/04/2025

Biển Thái Bình (Cồn Vành) đẹp quá.

ảnh: Cáy Studio

✅ Lịch sử hình thành huyện Tiền Hải ✅💧 Lịch sử hình thành huyện Tiền Hải chỉ thực sự rõ nét từ thời Nhà Nguyễn, khi Doan...
26/04/2025

✅ Lịch sử hình thành huyện Tiền Hải ✅

💧 Lịch sử hình thành huyện Tiền Hải chỉ thực sự rõ nét từ thời Nhà Nguyễn, khi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ năm 1828 đưa dân đến khai hoang lấn biển lập nên các làng xã tại đây. Lúc đầu (năm 1828, 1832), Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (cũ), gồm 7 tổng, huyện lị đặt tại ấp Phong Lai. Tới năm 1891, nhập thêm hai tổng: Đại Hoàng (chuyển từ huyện Trực Định, tức huyện Kiến Xương ngày nay, sang) và Đông Thành (từ huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định), thành ra có 9 tổng và thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình.

💧 Nguyễn Công Trứ coi vùng đất mới Tiền Hải cùng với Kim Sơn (Ninh Bình) là những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu và có nhiều triển vọng; Ngay ở tên gọi của 2 huyện này đã nói lên điều đó (Tiền Hải là biển bạc, Kim Sơn là rừng vàng - 2 khu vực ven biển này đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới).

💧 Là vùng đất trẻ, Tiền Hải không có nhiều những di sản văn hóa lâu đời. Song, từng là đất thiêng của cuộc khởi nghĩa nông dân do Phan Bá Vành chỉ huy; ngoài ra có các di tích như đình Nho Lâm, đình Tiểu Hoàng, đình Tô hay lễ hội làng Thanh Giám cũng là những tài nguyên du lịch quý giá trên vùng đất này.

💧 Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện. Huyện Tiền Hải khi đó gồm có 26 xã: Đông Cơ, Đông Hoàng, Đông Lâm, Đông Long, Đông Minh, Đông Phong, Đông Quý, Đông Trà, Đông Trung, Đông Xuyên, Nam Chính, Nam Hà, Nam Hải, Nam Hồng, Nam Hưng, Nam Thanh, Nam Thắng, Nam Thịnh, Nam Trung, Tây An, Tây Giang, Tây Lương, Tây Ninh, Tây Phong, Tây Sơn, Tây Tiến.

💧 Ngày 2 tháng 12 năm 1955, sáp nhập xóm Rũ Tiên của xã Hữu Ban, huyện Tiền Hải vào huyện Thái Ninh để sáp nhập với hai thôn Nam và Đoài của xã Thần Huống thuộc huyện Thái Ninh thành xã Thái Thịnh thuộc huyện Thái Ninh.

💧 Ngày 10 tháng 9 năm 1969, chuyển 5 xã: Bắc Hải, Phương Công, Vân Trường, Vũ Lăng, An Ninh thuộc huyện Kiến Xương về huyện Tiền Hải quản lý.

💧 Ngày 5 tháng 9 năm 1975, thành lập xã Nam Cường từ hợp tác xã Nam Cường và một phần xã Đông Lâm

💧 Ngày 13 tháng 12 năm 1986:

💧 Chia xã Đông Trà thành 2 xã: Đông Trà và Đông Hải.
💧 Chia xã Nam Hưng thành 2 xã: Nam Hưng và Nam Phú.
💧 Thành lập thị trấn Tiền Hải trên cơ sở 89,95 ha diện tích tự nhiên với 5.653 nhân khẩu của xã Tây Sơn và 56,70 ha diện tích tự nhiên với 1.653 nhân khẩu của xã Tây Giang.
💧 Ngày 11 tháng 2 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thái Bình (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2020). Theo đó:
💧 Sáp nhập xã Đông Hải trở lại xã Đông Trà
💧 Sáp nhập các xã Tây An, Tây Sơn vào thị trấn Tiền Hải.
💧 Huyện Tiền Hải có 1 thị trấn và 31 xã trực thuộc như hiện nay.

✅ NGƯỜI THÁI BÌNH ✅💧 Bảo tàng Thái Bình nằm tại địa chỉ tại Quảng trường 14-10, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vị ...
25/04/2025

✅ NGƯỜI THÁI BÌNH ✅

💧 Bảo tàng Thái Bình nằm tại địa chỉ tại Quảng trường 14-10, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vị trí của bảo tàng ở trên phố Lý Thường Kiệt, đối diện với phố Lê Lợi và UBND tỉnh Thái Bình. Bảo tàng nằm cạnh Triển lãm thông tin tỉnh Thái Bình và tượng đài Nguyễn Đức Cảnh.

💧 Bảo tàng có tổng diện tích gần 6.000 m2 trong đó có 3000m2 dùng để trưng bày các hiện vật, tranh ảnh… ghi dấu chặng đường lịch sử của quân và dân Thái Bình. Đến năm 2003, bảo tàng chính thức được khánh thành và đưa vào phục vụ nhân dân. Hiện nay với gần 30.000 tài liệu, hiện vật, hình ảnh… bảo tàng Thái Bình đã giới thiệu toàn diện về tự nhiên, lịch sử, văn hóa của tỉnh Thái Bình. Bảo tàng tỉnh Thái Bình bao gồm ba tầng với kiến trúc vừa hiện đại, vừa truyền thống và đây là một trong những bảo tàng lớn nhất của cả nước.

theo: Traveloka

☘️ Sự hình thành tỉnh Thái Bình ☘️✔️ Cách ngày nay vài chục vạn năm do ảnh hưởng của đợt băng hà cuối cùng, biển lùi, để...
25/04/2025

☘️ Sự hình thành tỉnh Thái Bình ☘️

✔️ Cách ngày nay vài chục vạn năm do ảnh hưởng của đợt băng hà cuối cùng, biển lùi, để lộ ra bề mặt đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn hơn ngày nay rất nhiều. Thái Bình khi đó là vùng đầm lầy, rừng rậm ven biển. Sau đó, biển lại tiến vào vùi lấp đồng bằng. Rồi đến khoảng 4000 năm đến 3000 năm cách ngày nay, mực nước biển hạ xuống thấp khoảng 4 mét so với mực nước biển bây giờ, đồng bằng lại được lộ diện. Thái Bình vẫn nằm trong vùng đầm lầy rừng rậm ven biển mà vết tích của nó là những vỉa than dày nằm sâu trong lòng đất thuộc các huyện: Hưng Hà, Ðông Hưng, Kiến Xương và Tiền Hải ngày nay. Khoảng 2500 đến 2300 năm cách ngày nay, biển lại tiến vào đồng bằng Bắc Bộ nói chung và đồng bằng ven biển nói riêng (trong đó có Thái Bình) lại bị trầm tích của đợt biển tiến này vùi lấp. Sau đó biển rút, đồng bằng Thái Bình và Hải Phòng được hình thành với bề mặt địa hình cơ bản như ngày nay.

💧theo:thaibinhtv.vn

Address

Thanh Bình
Hanoi
100000

Telephone

+84338223223

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Người Thái Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category